Tips Slot Untuk Pemula Slot Gacor Untuk Pemula Cara Mudah Bermain Slot Mengenal Slot Online Teknik Dasar Bermain Slot
Đề thi học kì 1 môn Văn lớp 11 trường THPT chuyên Lê Hồng Phong năm 2014
Saturday, June 22, 2024
HomeLớp 11Đề trắc nghiệm và kiểm traĐề thi học kì 1 môn Văn lớp 11 trường THPT chuyên...

Đề thi học kì 1 môn Văn lớp 11 trường THPT chuyên Lê Hồng Phong năm 2014

Đáp án & Đề thi học kì 1 lớp 11 môn Văn năm 2013 – 2014 Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong. Các em tham khảo bên dưới đây:

Đề thi học kì 1 lớp 11 môn Văn năm 2013 – 2014 Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong:

Câu 1: (4.0 điểm)

Giáo sư Ngô Bảo Châu, người đã nỗ lực hết mình để đạt giải Fields (tương đương giải Nô – ben về toán học), sau khi nhận giải có chia sẻ đại ý rằng: Không nhất thiết tất cả mọi người đều phải đạt được giải Fields, nhưng ai cũng có quyền ước mơ đến giải Fields và làm điều gì đó để nâng cao ý nghĩa cuộc sống của mình.

Suy nghĩ của anh (chị)  từ lời chia sẻ trên.

Câu 2: (6.0 điểm)

Bàn về thơ, nữ sĩ Xuân Quỳnh có viết:

“Thơ đối với cuộc sống ví như người con gái đối với gia đình, cái để người ta làm quen là nhan sắc, nhưng cái để sống với nhau lâu dài lại là đức hạnh”.

Anh (Chị)  hiểu ý kiến trên như thế nào?

Hãy làm sáng tỏ điều đó bằng việc phân tích một bài thơ trong phong trào Thơ mới mà anh (chị) yêu thích.

 ———– HẾT———–

Đáp án đề thi học kì 1 lớp 11 môn Văn năm 2013 – 2014 Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong:

Câu 1: ( 4.0 điểm )

Yêu cầu về kĩ năng:

– Học sinh biết làm bài nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng đạo lí, cụ thể ở là bàn về khát vọng vươn lên những đỉnh cao trong cuộc sống và nâng cao ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân. Đó là quyền mà cũng là nghĩa vụ làm nên phẩm chất cao đẹp của mỗi con người …

– Kết cấu, lập luận, diễn đạt chặt chẽ, sắc bén làm sáng tỏ vấn đề trung tâm.

Yêu cầu về kiến thức:

Có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo các ý chính sau:

1. GIẢI THÍCH ( 0,5 điểm )

– Giải Fields: Giải thưởng của thế giới trao cho thành tựu lớn về toán học – đó là đỉnh cao vinh quang về trí tuệ. Hiểu rộng ra, giải Fields là sự toả sáng của những thành công đỉnh cao trong cuộc sống .

– Ước mơ đạt giải Fields:  là giấc mơ đạt tới những đỉnh cao trong cuộc sống

– Làm điều gì đó: Là không chỉ mơ ước mà còn phải hành động, làm những việc dù là rất nhỏ để nâng cao ý nghĩa đời sống của mình

– Tổng hợp :

Với cách nói gần gũi của một lời chia sẻ nhưng lại rất chặt chẽ trong ý tứ và cách diễn giải, câu nói của giáo sư Ngô Bảo Châu gửi đến chúng ta một thông điệp: Người ta không nhất thiết phải đạt được giải Fields, nhưng người ta cần phải có ước mơ vươn tới những đỉnh cao trong cuộc sống và nhất định phải làm những điều gì đó dù là nhỏ nhất để nâng cao đời sống của mình.

2. PHÂN TÍCH: (3,0 điểm)

a) Không nhất thiết mọi người phải đạt được giải Fields của cuộc sống vì:(0.5 điểm )

– Giải Fields – đỉnh cao lí tưởng của thành công trong c/s. Nó thật sự hiếm hoi nên hầu như chỉ những người biết hi sinh hết mình và thật sự xuất chúng mới đạt được.

– Bản thân mỗi cá nhân bao giờ cũng có rất nhiều những hạn chế, đặc biệt là về trí tuệ, ý chí, nghị lực … điều này ngăn cản chúng ta đến được với giải Fields

– Đa số chúng ta lại bị quy định bởi những hoàn cảnh riêng với đầy những giới hạn, làm cho chúng ta không có điều kiện vươn lên tới những đỉnh cao lí tưởng.

– Câu nói trước hết là cái nhìn thấu đáo, đầy cảm thông với những hạn chế của mỗi cá nhân trong tính hiện thực của c/s.

b) Nhưng con người ta không thể thiếu giấc mơ vươn tới những đỉnh cao của cuộc sống (bàn về ý nghĩa của ước mơ và khát vọng trong cuộc sống) ( 1,25 điểm)

– Chính ước mơ, khát vọng giúp người ta thành công trong cuộc sống

 + Ước mơ, khát vọng là động lực giúp con người luôn biết vươn lên giành lấy những đỉnh cao trong c/s (lấy VD trong các lĩnh vực: sáng tạo khoa học, sáng tác văn học …), những đỉnh cao mang tầm nhân loại.

 + Ước mơ và khát vọng đôi khi còn là động lực sống giúp người ta vượt qua rất nhiều khó khăn, hạn chế của bản thân, của hoàn cảnh sống . Khi ấy, giải Fields đối với mỗi người không chỉ là những thành công vĩ đại mang tầm nhân loại mà còn chính là những thành công dù là rất nhỏ nhưng có ý nghĩa đối với mỗi người

 + Nếu thiếu ước mơ khát vọng , c/s con người rất dễ rơi vào tầm thường tẻ nhạt, thậm chí mất hết động lực sống, người ta dễ gặp sai lầm và trở thành kẻ thất bại trong c/s  …

– Kết luận: Con người không thể sống mà không ước mơ, khát vọng. Chính ước mơ khát vọng đã nâng cao ý nghĩa cuộc đời mỗi chúng ta.

c)  Trong cuộc sống, chúng ta không chỉ biết ước mơ mà luôn cần phải làm một điều gì đó thực tế để nâng cao đời sống của mình. ( 1,25 điểm)

–  Trong bất kì hoàn cảnh khó khăn nào của cuộc sống chúng ta vẫn có thể làm cho cuộc sống của mình có ý nghĩa hơn

– Con người đẹp nhất là con người luôn biết nâng cao ý nghĩa đời sống của mình bằng những việc làm cụ thể : Không nhất thiết chúng ta phải đạt được giải Fields lớn lao mang tầm vóc nhân loại, nhưng chúng ta cần phải đạt được giải Fields của chính cuộc đời mình. Vì thế, chúng ta không chỉ biết ước mơ và khát vọng mà phải luôn biết làm những điều dù là rất nhỏ để nâng cao ý nghĩa đời sống của mình trong hoàn cảnh của c/s thực tế của bản thân (lấy những VD thực tế). Khi ấy chúng ta đã là những người thành công.

3. BÌNH LUẬN, MỞ RỘNG ( 0,5 điểm )

– Câu nói toát lên những suy nghĩ nhân văn: Đồng cảm với những hạn chế, nhìn thấu đáo mâu thuẫn giữa ước mơ, khát vọng và hoàn cảnh thực của con người, nhưng đồng thời cổ vũ  cho con người luôn biết vươn lên sống có ý nghĩa nhất

– Bản thân anh (chị)  đã làm những để nâng cao ý nghĩa cuộc sống của mình?

– Muốn đạt được bất kì thành công nào chúng ta cũng cần rèn luyện nghị lực, ý chí, quyết tâm hành động…và nhất là không bao giờ được viển vông hoặc chán nản buông xuôi trước hoàn cảnh.

 Câu 2: (6.0 điểm)

* Yêu cầu về kĩ năng:

– Hiểu ý kiến của Xuân Quỳnh bàn về thơ: vai trò, sức hấp dẫn của thơ

– Chọn và hiểu được các tác phẩm thơ mới để phân tích, minh hoạ cho ý kiến.

– Có kĩ năng giải thích, phân tích, bình dẫn chứng để minh hoạ; bố cục bài hợp lí.

* Yêu cầu về kiến thức:

Có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo các ý chính sau:

1. KHÁI QUÁT (0,5 điểm)

Giới thiệu yêu cầu của đề, trích dẫn nhận định

 2. GIẢI THÍCH:  (1.0 điểm)

– Thơ đối với cuộc sống ví như người con gái đối với gia đình

Đây là cách nói hình tượng nhằm nhấn mạnh vai trò lớn lao của thơ đối với cuộc sống.

– Cái để người ta làm quen là nhan sắc, nhưng cái để sống với nhau lâu dài lại là đức hạnh.

+  Nhan sắc người phụ nữ luôn tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn ban đầu. Bài thơ cũng vậy, để lại ấn tượng đầu tiên bao giờ cũng là những yếu tố thuộc về hình thức nghệ thuật: thể thơ, cấu tứ, ngôn ngữ, hình ảnh, nhạc điệu…

+ Đức hạnh của người phụ nữ chính là yếu tố quyết định để tạo nên cuộc sống hạnh phúc lâu dài. Bài thơ còn lại mãi với thời gian, sống mãi trong lòng người chính là ở nội dung cảm xúc mới mẻ, sâu sắc, độc đáo.

=> Ở đây với cách nói hình tượng, Xuân Quỳnh khẳng định sức hấp dẫn của thơ. Điều đáng chú ý là khi đưa ra ý kiến của mình, nữ sĩ không hề coi nhẹ hình thức so với nội dung, cũng không đối lập giữa nội dung và hình thức. Bài thơ hay phải là bài thơ có sự kết hợp hài hòa, đẹp đẽ giữa nội dung và hình thức.

3. CHỨNG MINH (4,0 điểm)

HS có thể chọn một bài thơ Mới trong chương trình hoặc bài thơ Mới bất kì mà em yêu thích. Song trong quá trình phân tích phải thể hiện rõ tính định hướng:

– Ấn tượng đầu tiên dễ lôi cuốn người đọc là gì?

– Nội dung cảm xúc của bài thơ có gì mới mẻ, sâu sắc, độc đáo?

– Sự hài hòa giữa nội dung và hình thức biểu hiện?

 4. ĐÁNH GIÁ, MỞ RỘNG (0,5 điểm)

– Khẳng định sự đúng đắn của nhận định.

– Khẳng định sức hấp dẫn của bài thơ đã chọn nói riêng, của thơ Mới nói chung.

Comments

comments

RELATED ARTICLES

Most Popular